TRANG CHỦ | TIN TỨC | CHUYÊN MỤC | Sơ đồ website | LIÊN HỆ | Ngôn ngữ:
CHUYÊN MỤC
TIN TỨC
Support
Liên kết website
Hình ảnh website
Thống kê
Lượt truy cập: 1554795
Khách Online: 4
Get the Flash Player to see this rotator.
Các bệnh thường gặp
TRANG CHỦ » CHUYÊN MỤC » Các bệnh thường gặp
Tổng quan về Viêm tuỵ cấp và mãn tính
Viêm tuyến tuỵ là một bệnh lý rất thường gặp. Tuyến tuỵ tuy nhỏ so với trọng lượng cơ thể nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc tiêu hoá thức ăn và chuyển hoá chất đường glucose. Viêm tuỵ gây ra những ảnh hưỏng lớn đến sinh hoạt hàng ngày và chức năng chuyển hoá, tiêu hoá của cơ thể
Tuỵ là một tuyến lớn nằm sau dạ dày và gần tá tràng. Tá tràng là phần trên của ruột non. Tuỵ tiết ra các men tiêu hoá đổ vào tá tràng qua ống tuỵ. Các men này giúp tiêu hoá chất mỡ, các protein, và chất đường bột trong thức ăn hàng ngày. Tuỵ còn tiết ra insulin và glucagon vào máu. Các hormon này giúp cơ thể sử dụng đường glucose từ thức ăn để làm năng lượng hoạt động.

 Bình thường các men tiêu hoá không hoạt động cho tới khi chúng đến ruột non, nơi chúng bắt đầu tiêu hoá thức ăn. Nhưng nếu các men này bị kích hoạt khi còn ở trong tuyến tuỵ, chúng sẽ bắt đầu tiêu hoá ngay bản thân tuyến tuỵ.
Có 2 thể viêm tụy: viêm tuỵ cấp và viêm tuỵ mãn
- Viêm tụy cấp xảy ra đột ngột, giảm bớt sau một thời gian ngắn và thường hồi phục.
- Viêm tuỵ mãn không tự khỏi, kết quả là tuyến tuỵ bị tiêu huỷ từ từ.
Cả hai thể viêm tuỵ đều có thể gây những biến chứng nặng. Trong những trường hợp nặng, có thể xảy ra xuất huyết, tổn thương mô học và nhiễm trùng. Nang giả tuỵ có thể hình thành do kết tụ của các dịch và mô hoại tử. Các men tiêu hoá của tuỵ và độc tố khi vào máu sẽ gây tổn thương tim, phổi, thận hoặc các cơ quan khác..

Hình ảnh tuyến tuỵ (pancreas), ống tuỵ (pancreatic duct) và các cơ quan kề cận: Tá tràng (duodenum), túi mật (gallbladder), ống mật chủ (common bile duct), gan (liver).

I. VIÊM TUY CẤP
1. Nguyên nhân viêm tuỵ cấp?
Một số bệnh nhân có thể bị một hoặc nhiều đợt viêm tuỵ cấp sau đó phục hồi hoàn toàn, nhưng đôi khi viêm tuỵ cấp có thể trở nặng đe doạ tính mạng và gây nhiều biến chứng. Trong số hàng trăm ngàn trường hợp xảy ra mỗi năm ở Mỹ khoảng 20 % là những trường hợp nặng. Viêm tuỵ cấp thường xảy ra ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Viêm tuỵ cấp thường do sỏi mật, hoặc uống quá nhiều rượu nhưng đấy không phải là những nguyên nhân duy nhất. Các nguyên nhân khác gây viêm tuỵ cũng cần được xem xét kỹ để có điều trị thích hợp. .

Sỏi kênh mật tuỵ gây viêm tuỵ cấp

Sỏi mật

2. Các triệu chứng của viêm tuỵ cấp?
Viêm tuỵ cấp thường khởi đầu bằng đau ở vùng thượng vị, có thể bớt sau vài ngày. Đau bụng nhiều và liên tục, hoặc lan ra sau lưng và những vị trí khác. Đau có thể xảy ra đột ngột và dữ dội, hoặc đau nhẹ lúc khởi đầu sau đó tăng dần sau khi ăn. Một số bệnh nhân viêm tuỵ cấp cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi. Các triệu chứng khác bao gồm: bụng sưng và đau tức; buồn nôn; nôn; sốt; mạch nhanh. Trong các trường hợp nặng, có thể bị mất nước và tụt huyết áp . Suy tim, suy hô hấp và suy thận có khả năng xảy ra. Nếu có xuất huyết ở tuỵ, sốc, sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong cao.
3. Chẩn đoán viêm tuỵ cấp?
Ngoài việc hỏi tiền sử bệnh và thăm khám lâm sàng, bác sĩ còn chỉ định xét nghiệm máu để chẩn đoán viêm tuỵ cấp. Trong các đợt viêm cấp, trị số amylase và lipase trong máu tăng ít nhất gấp 3 lần so với bình thường. Amylase và lipase là các men tiêu hoá hình thành trong tuyến tuỵ. Các thay đổi về lượng glucose, calcium, magnesium, sodium, potassium, và bicarbonate trong máu có thể xảy ra. Sau khi có cải thiện ở tuyến tuỵ, các trị số này thường trở về bình thường.
Bác sĩ có thể chỉ định làm siêu âm bụng để tìm sỏi mật và chụp cắt lớp CAT scan (computerized axial tomography scan) để đánh giá tình trạng viêm và hoại tử ở tuyến tuỵ. CAT scan còn giúp phát hiện nang giả tuỵ.

Hình ảnh viêm tuỵ cấp trên siêu âm

Hình ảnh nang giả tuỵ trên CAT-scan

4. Điều trị viêm tuỵ cấp ra sao?
- Điều trị tuỳ thuộc độ trầm trọng của bệnh. Nếu không có biến chứng ở thận hoặc phổi, viêm tuỵ cấp thường tự cải thiện. Điều trị thường nhằm mục đích hỗ trợ các chức năng quan trọng của cơ thể và phòng ngừa biến chứng. Cần nằm viện để truyền dịch thay thế bằng đường tĩnh mạch.
- Nang giả tuỵ khá lớn có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi của tuyến tuỵ. Bác sĩ có thể chọc dò để hút dịch hoặc phẫu thuật cắt nang. Trừ khi ống tuỵ hoặc ống mật chủ bị tắc do sỏi, đợt viêm tuỵ cấp thường chỉ kéo dài vài ngày. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân cần được nuôi bằng đường tĩnh mạch từ 3 đến 6 tuần cho đến khi tuyến tuỵ bình phục dần. Biện pháp này gọi là nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tiêm truyền. Tuy nhiên trong những trường hợp nhẹ, nuôi ăn hoàn toàn bằng đường tiêm truyền thường không cần thiết. .
- Trước khi xuất viện, bệnh nhân sẽ được khuyên bỏ rượu và không nên ăn những bữa ăn thịnh soạn. Khi các dấu hiệu viêm tuỵ cấp đã hết, bác sĩ sẽ cố gắng tìm nguyên nhân chính xác của đợt viêm tuỵ lần này để đề phòng những đợt kế tiếp. Một số trường hợp có nguyên nhân thật rõ ràng, nhưng đối với một số khác, để tìm chính xác nguyên nhân cần phải làm thêm nhiều xét nghiệm phức tạp.

5. Biến chứng
- Viêm tuỵ cấp có thể gây nên những biến chứng về hô hấp. Nhiều bệnh nhân bị thiếu oxy máu, do đó mô và các tế bào cũng sẽ thiếu oxy. Điều trị thiếu oxy máu bằng cách cho thở oxy qua mặt nạ. Dù đã được cung cấp đủ lượng oxygen, một số ệịnh nhân vẫn bị suy hô hấp và cần được thở máy.
- Nếu nôn ói nhiều, bệnh nhân cần được đặt ống thông dạ dày. Những trường hợp nhẹ, bệnh nhân phải kiêng ăn trong 3-4 ngày và sẽ được truyền dịch và tiêm giảm đau qua đường tĩnh mạch.
- Nếu nhiễm trùng, bác sĩ sẽ sử dụng thêm kháng sinh. Phẫu thuật là cần thiết nếu có nhiễm trùng nặng. Phẫu thuật giúp phát hiện chỗ xuất huyết, chẩn đoán loại trừ với những nguyên nhân khác có triệu chứng giống viêm tuỵ cấp, hoặc để cắt lọc mô tuỵ bị hoại tử nặng.
- Viêm tuỵ cấp đôi khi gây biến chứng suy thận cấp. Khi suy thận cấp, cần chạy thận nhân tạo để lọc các chất cặn bã trong máu.


Viêm Tụy hoại tử
6. Liên quan giữa sỏi mật và viêm tuỵ?
Sỏi mật có thể gây viêm tuỵ cấp và cần phẫu thuật để lấy sỏi. Siêu âm hoặc CAT scan có thể phát hiện sỏi mật và đánh giá về mức độ tổn thương ở tuyến tuỵ. Tuỳ theo độ trầm trọng của viêm tuỵ mà có kế hoạch phẫu thuật. Nếu viêm tuỵ nhẹ, có thể phẫu thuật sỏi túi mật trong vòng một tuần. Trường hợp viêm tuỵ do sỏi kẹt ở kênh chung mật tuỵ hoặc ống mật chủ sẽ được giải quyết bằng phương pháp nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng ERCP. Sau khi cắt túi mật nội soi và lấy sỏi ống mật chủ, giải quyết tình trạng viêm nhiễm, tuyến tuỵ thường phục hồi lại trạng thái bình thường.

Sỏi kẹt đoạn cuối ống mật chủ gây viêm tuỵ

II. VIÊM TỤY MÃN LÀ GÌ?
Nếu tiếp tục có tổn thương tuyến tuỵ, sẽ hình thành viêm tuỵ mãn. Viêm tuỵ mãn xảy ra khi các men tiêu hoá tấn công, phá huỷ tuyến tuỵ và các mô lân cận, gây đau và hình thành mô sẹo. Viêm tuỵ mãn thường xảy ra khi uống rượu nhiều trong nhiều năm, nhưng thể viêm mãn tính cũng có thể khởi phát chỉ sau một đợt cấp duy nhất, đặc biệt khi các ống tuỵ bị tổn thương. Ống tuỵ tổn thương gây viêm tuỵ, mô tuỵ bị phá huỷ và thay thế bằng mô sẹo.

1. Nguyên nhân gây viêm tụy mãn
Nghiện rượu thường gặp nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất của viêm tuỵ mãn. Các nguyên nhân chính của viêm tuỵ mãn là:
- Nghiện rượu
- Tắc nghẽn hoặc hẹp ống tuỵ do chấn thương hoặc do hình thành nang giả tuỵ
- Nguyên nhân di truyền không xác định (vô căn)
Tổn thương do nghiện rượu có thể không biểu hiện trong nhiều năm, và sau đó xuất hiện đôt ngột bằng một đợt viêm tuỵ cấp. Nghiện rượu là nguyên nhân viêm tuỵ mãn ở 70% người trưởng thành. Thể viêm tuỵ này thường ở nam nhiều hơn nữ và thường xảy ra ở lứa tuổi 30 đến 40.
Viêm tuỵ di truyền thường khởi phát ở trẻ em nhưng có thể không được phát hiện trong thời gian nhiều năm. Viêm tuỵ di truyền thường có những đợt tái phát . Mỗi đợt kéo dài từ 2 ngày đến 2 tuần. Yếu tố chẩn đoán viêm tuỵ di truyền là có hai hoặc nhiều thành viên cùng một thế hệ trong gia đình bị viêm tuỵ. Điều trị đợt cấp thường tương tự như đối với viêm tuỵ cấp. Các cơn đau và những vấn đề về dinh dưỡng cũng được xử trí giống viêm tuỵ cấp. Phẫu thuật đôi khi giúp giảm đau và xử lý các biến chứng.
Các nguyên nhân khác của viêm tuỵ mãn là:
- Tình trạng di truyền như trường hợp tuỵ chia đôi ( pancreas divisum)
- Xơ nang phổi (cystic fibrosis)
- Tăng calcium trong máu (hypercalcemia)
- Tăng mỡ máu (hyperlipidemia hoặc hypertriglyceridemia)
- Một số thuốc
- Một số bệnh tự miễn

2. Triệu chứng của viêm tuỵ mãn?
Đa số bệnh nhân viêm tuỵ mãn có đau bụng, mặc dầu một số không có triệu chứng đau. Đau nặng hơn sau khi ăn uống, lan ra sau lưng hoặc đau liên tục khiến bệnh nhân không thể sinh hoạt bình thường. Ở một số trường hợp, đau giảm dần theo diễn tiến của bệnh, có thể do tuỵ không còn sản xuất được men tiêu hoá nữa. Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn ói, sụt cân và tiêu phân mỡ.
Bệnh nhân viêm tuỵ mãn thường sụt cân, ngay cả khi ăn vẫn ngon miệng và chế độ ăn vẫn bình thường. Sụt cân xảy ra do cơ thể không tiết đủ men tuỵ để tiêu hoá thức ăn, do đó chất dinh dưỡng không được hấp thu đầy đủ. Tiêu hoá kém dẫn đến bài tiết chất mỡ, chất protein, và chất đường trong phân. Nếu những tế bào sản xuất insulin của tuỵ cũng bị tổn thương, đái tháo đường sẽ hình thành ở giai đoạn này.

3. Chẩn đoán viêm tuỵ mãn ?
Chẩn đoán có thể khó, nhưng các kỹ thuật mới sẽ hỗ trợ. Đó là các xét nghiệm tìm hiểu về chức năng tuỵ. Dùng kỹ thuật siêu âm, nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng (ERCP), và CAT scan, bác sĩ có thể thấy được những dấu hiệu của viêm tuỵ mãn. Các dấu hiệu đó là vôi hoá tuỵ, mô tuyến tuỵ xơ cứng do kết tủa các muối calcium không hoà tan. Khi bệnh tiến triển xa, đái tháo đường và kém hấp thu sẽ xảy ra, lúc đó bác sĩ sẽ xét nghiệm máu, nước tiểu, phân để chẩn đoán viêm tuỵ mãn và theo dõi diễn biến của nó.

4. Điều trị viêm tuỵ mãn ra sao?
- Giảm đau là bước đầu tiên trong điều trị viêm tuỵ mãn. Bước kế tiếp là thiết lập một chế độ ăn giàu đường bột và ít chất béo.
- Có thể chỉ định dùng men tuỵ nếu tuỵ không còn đáp ứng đủ. Men cần uống theo mỗi bữa ăn để giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn và phục hồi lại cân nặng. Đôi khi cần dùng insulin và một số thuốc khác đề kiểm soát đường huyết.
- Một số trường hợp cần điều trị phẫu thuật để giảm đau. Phẫu thuật được dùng để dẫn lưu ống tuỵ dãn to do tắc nghẽn hoặc cắt bỏ một phẩn tuỵ bị hoại tử.
- Đối với những trường hợp cơn xảy ra thưa và nhẹ hơn, bịnh nhân cần bỏ rượu, tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn, và uống thuốc đầy đủ.

III. Viêm tuỵ ở trẻ em
Viêm tuỵ mãn ít khi xảy ra ở trẻ em. Chấn thương tuỵ và viêm tuỵ di truyền là hai nguyên nhân chính. Trẻ bị xơ nang, một bịnh lý phổi tiến triển từ từ, gây tàn phế và không thể chữa trị được, có thể đồng thời bị viêm tuỵ. Trong đa số trường hợp viêm tuỵ ở trẻ em thường không tìm thấy nguyên nhân..


** TÓM TẮT VỀ VIÊM TUỴ
Viêm tuỵ khởi phát khi các men tiêu hoá hoạt động ngay trong tuyến tuỵ và bắt đầu “tiêu hoá “ tụy.
- Viêm tuỵ có 2 thể: cấp tính và mãn tính
- Các nguyên nhân thường gặp của viêm tuỵ cấp là sỏi mật và lạm dụng rượu
- Đôi khi không tìm thấy nguyên nhân của viêm tuỵ.
- Các triệu chứng của viêm tuỵ cấp bao gồm đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt và mạch nhanh.
- Điều trị viêm tuỵ cấp bao gồm dịch truyền tĩnh mạch, oxygen, kháng sinh, hoặc phẫu thuật.
- Viêm tuỵ cấp trở thành mãn khi mô tuỵ bị phá huỷ và thay thế bằng mô sẹo.
- Điều trị viêm tuỵ mãn bao gồm thuốc giảm đau; chế độ ăn nhiều đường bột, ít chất béo; uống bổ sung thêm men tiêu hoá. Một số trường hợp cần điều trị phẫu thuật.

(The National Institutes of Health (NIH)-2008) 
Các bệnh thường gặp
Rôm sảy - Nguyên nhân, phương pháp điều trị và cách phòng bệnh (28/09/09)
LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP? (28/09/09)
CẨN THẬN VỚI CHỨNG U MEN RĂNG (28/09/09)
Bệnh tim mạch ở người bệnh tiểu đường (28/09/09)
  TRANG CHỦ | GIỚI THIỆU | DỊCH VỤ KHÁM & ĐIỀU TRỊ | CHUYÊN KHOA | THÔNG TIN CHO BỆNH NHÂN | TRAO ĐỔI KINH NGHIỆM | TIN TỨC | CHUYÊN MỤC | HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC | Sơ đồ website | LIÊN HỆ